Vài trang hồ sơ chủ nghĩa Phát Xít Đức (phần cuối)

Thứ bảy - 18/11/2017 08:41

Những người Đức 75 tuổi trở lên rất khó trả lời con cháu là tại sao ngày xưa họ lại cam tâm đi theo Hitler làm những việc hoàn toàn mất nhân tính như vậy.

>>> Vài trang hồ sơ chủ nghĩa Phát Xít Đức (phần 2)
III. NGƯỜI ĐỨC VỚI CUỘC DIỆT CHỦNG CỦA PHÁT XÍT ĐỨC

 
1

Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn chưa thể hiểu được tại sao nước Đức văn minh bậc nhất thế giới – nơi từng sinh ra những tài năng như nhà văn Goethe, triết gia Hegel, bác học Humboldt v.v. – lại là thủ phạm của cuộc diệt chủng người Do Thái vô cùng dã man tàn bạo trong Đại chiến thế giới lần II. Hiện nay, những người Đức 75 tuổi trở lên rất khó trả lời con cháu là tại sao ngày xưa họ lại cam tâm đi theo Hitler làm những việc hoàn toàn mất nhân tính như vậy. Chế độ phát xít bị coi như một vết nhơ của dân tộc, vì thế nhiềungười Đức đã cố xoá hết các di tích vật thể của nó. Nhưng những người Đức chân chính thì luôn nhắc lại quá khứ ô nhục đó để cảnh giác với chủ nghĩa phát xít mới và để cho thế hệ sau biết phải làm gì để tránh dẫm lên vết xe đổ.

Dù phát xít Đức hết sức giữ bí mật hoạt động diệt chủng, nhưng 3 triệu lính Đức trên mặt trận phía Đông khi nghỉ phép về nhà không thể không kể cho gia đình biết. Nghĩa là ít nhất 10 triệu người Đức biết, nhưng họ đã nói gì về chính mình ?

Năm 1996, đài truyền hình Đức tổ chức thăm dò dư luận về vấn đề này; 6% người Đức trên 65 tuổi thừa nhận có tham gia hành quyết tập thể người Do Thái sau khi Đức tấn công Liên Xô; 15% nói hồi ấy họ có nghe nói. Nghĩa là 21% hoặc 11 triệu người Đức đã biết việc diệt chủng; 79% chỉ biết sau khi Đại chiến II chấm dứt. Một cuộc thăm dò khác cho thấy 22 triệu người Đức biết việc diệt chủng, 6 triệu người 65 tuổi trở lên thừa nhận có tham gia. Dĩ nhiên, biết không có nghĩa là đồng ý.

Goebbels từng than phiền: “Đâu đâu cũng có người đồng tình với bọn Do Thái.” Ngay từ tháng 9.1941, dân Đức đã phê phán việc chính quyền bắt người Do Thái phải đeo ngôi sao 6 cạnh mầu vàng, họ rất lo là người Đức ở Mỹ cũng sẽ bị buộc phải đeo huy hiệu chữ thập ngoặc như vậy. Nhiều người Đức biết việc chính quyền xua đuổi tàn sát người Do Thái và họ không tán thành cách làm đó, nhưng họ phải nhắm mắt làm ngơ, vì phản đối thì sẽ bị trừng trị ngay.
 
2

Trong cuộc thăm dò dư luận năm 1986, khi được hỏi ai chịu trách nhiệm về tội giết người Do Thái, 70% người Đức nói Hitler và đồng bọn, 20% (chủ yếu dưới 30 tuổi) nói “tất cả người Đức” đều có tội.

Rõ ràng người Đức có lỗi trong tội ác diệt chủng nói trên. Phải thừa nhận Hitler có “tài”: năng lực phạm tội của hắn có thể “giải phóng” năng lực phạm tội của nhiều người Đức khác – đây là bi kịch của một dân tộc từng sinh ra không ít thiên tài.

Dù sao, rốt cuộc họ vẫn là một dân tộc tỉnh táo – và thế giới đều biết điều đó. Ngay từ năm 1934, thị trưởng Leipzig đã từ chức để phản đối chính quyền phát xít dỡ bỏ bức tượng nhạc sĩ Đức gốc Do Thái Felix Mendelssohn trước Cung Âm nhạc. Năm 1937, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh nguyên soái W. Blomumberg và Tổng tư lệnh lục quân thượng tướng W. Frasie phản đối Hitler phát động chiến tranh với phương Tây, do đó cả hai đều bị sa thải. Tháng 11.1939 tại Munich, một người Đức thân cộng sản cho nổ một quả bom hẹn giờ ở chỗ Hitler diễn thuyết. 8 đảng viên Quốc xã chết, hơn 60 tên bị thương. Hitler hôm ấy tình cờ quyết định nói ngắn và nói sớm, hắn đi được một lúc thì bom mới nổ. Đây là vụ ám sát Hitler lần thứ 7. Sau đó còn có nhiều vụ khác, nhưng tất cả đều không thành chỉ vì Hitler gặp may. Toàn bộ những người tham gia ám sát đều bị hành quyết; kể cả nguyên soái Rommel Tư lệnh quân đội Đức ở Bắc Phi, nổi tiếng chỉ huy chiến đấu giỏi, được gọi là “Cáo sa mạc”.

Tháng 5.1938 lo sợ việc Hitler tấn công Tiệp Khắc sẽ gây ra chiến tranh thế giới, trung tướng R. Becker Tham mưu trưởng Lục quân đã lôi kéo được một số tướng cấp cao định làm đảo chính bắt Hitler và lập chính phủ mới. Nhưng do Anh Pháp thoả hiệp ký Hiệp ước Munich mà Hitler dễ dàng chiếm được Tiệp Khắc, nên đảo chính đã không nổ ra. Nhóm đảo chính nhiều lần liên hệ với Đồng Minh, nhưng do sợ mắc bẫy, nên Đồng Minh đều phớt lờ họ. Cuối 1942, lo ngại trước các vụ tàn sát ở Ba Lan và Nga, một số tướng cấp cao, trong đó có viên chỉ huy tập đoàn quân trung lộ mặt trận Nga, đã chống lại Hitler. Sau thất bại ở Stalingrad, nhiều tướng Đức bất mãn định tổ chức ám sát Hitler khi hắn đến Nga thị sát, nhưng dự định này cũng không thành.

Khi Liên Xô bắt đầu phản công (1943), có thêm một số tướng Đức chống lại Hitler, nổi bật nhất là trung tá Schtaufenberg. Năm 1945, các tay chân thân cận nhất như Goering, Himmler đều bí mật đàm phán với Đồng Minh để xin đầu hàng.

Cần nhấn mạnh sự thật kể trên để thấy Đức khác với Nhật – Nhật chống Đồng Minh ngay cả khi đã thua rõ ràng và hàng trăm nghìn dân bị bom nguyên tử Mỹ giết; nếu Nhật Hoàng không quyết định đầu hàng thì họ sẽ đánh đến người cuối cùng, không nghĩ gì đến sự tồn vong của dân tộc. Ngày nay các đời Chính phủ Nhật vẫn chưa hoàn toàn nhận lỗi về cuộc chiến tranh Thái Bình Dương do ông cha họ gây ra. Dù biết rõ tội ác của chính quyền nước mình, nhưng người Nhật vẫn tuyệt đối tin vào Nhật Hoàng; chưa ai từng có mưu mô ám sát nhà vua hoặc các tướng lĩnh Nhật phạm tội ác tầy trời. Khi biết Chính phủ mình quyết định cấu kết với Đức và Ý để chống Đồng minh, Đô đốc Isoroku Yamamoto đã tỏ ý phản đối – vì từng học và công tác ở Mỹ lâu năm, ông biết Nhật không thể chọi lại sức mạnh nền công nghiệp của Mỹ – và do đó ông bị bọn hiếu chiến ở Nhật đòi trừ khử. Thế nhưng khi Nhật-Đức-Ý đã lập Khối Trục, samurai Yamamoto lại nghiêm chỉnh nhất tiến hành chuẩn bị chiến tranh, chính ông đã vạch kế hoạch đánh úp Trân châu cảng.

Năm 1970, Thủ tướng CHLB Đức W. Brand quỳ xuống trước bia kỷ niệm người Do Thái bị giết ở Ba Lan. Báo chí đưa tin này dưới cái tít “Brand quỳ xuống, nước Đức đứng lên”. Đúng vậy, họ đã đứng lên, đúng với bản chất một dân tộc văn minh. Các đời chính phủ Đức nghiêm chỉnh tiến hành bồi thường vật chất cho tất cả các nạn nhân Do Thái còn sống sót. 80 tỷ USD đã được người Đức bù đắp cho các thiệt hại do phát xít Hitler gây ra. Khi dự lễ kỷ niệm 60 năm giải phóng trại tập trung Auschwitz, Thủ tướng Đức G.Schroeder nói nước Đức xấu hổ vì nỗi nhục này. Bộ trưởng Ngoại giao Đức J.Fischer nói: về đạo nghĩa và chính trị, nước Đức có trách nhiệm thừa nhận nạn diệt chủng của phát xít Đức. Đầu năm 2005, thủ đô Berlin khánh thành đài kỷ niệm người Do Thái bị giết.

Trái lại, người Nhật vẫn đến lễ ở đền Yasukuni, nơi đặt bài vị hơn 3 triệu quân nhân Nhật chết trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa suốt từ thời Minh Trị đến năm 1945. Thế đấy! Văn minh Đông Tây vẫn khác nhau, dù nước Nhật có vẻ đã hoàn toàn Tây phương hóa.

TẠI SAO ANH, MỸ LÀM NGƠ KHI PHÁT XÍT ĐỨC TÀN SÁT NGƯỜI DO THÁI ?

Tháng 1.2005, trong dịp kỷ niệm 60 năm ngày quân đội Liên Xô giải phóng Trại Tập trung Ao-xvit (27.1.1945), Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc An-nan cùng nhiều đại biểu đã lên tiếng kêu gọi loài người phải cảnh giác kịp thời vạch trần và tố cáo nạn diệt chủng. Báo chí nhiều nước đã nhắc lại một sự thật khó hiểu trong Đại chiến Thế giới lần thứ II là Chính phủ các nước Đồng minh phương Tây đã làm ngơ trước việc phát xít Đức giết hại hàng triệu người Do Thái trong các trại tập trung chúng lập ra ở Đông và Nam châu Âu. Sự khó hiểu đó là một trong những cái gọi là “Bí ẩn của Đại chiến II”, hiện đã được đưa ra ánh sáng.

Sau khi Đại chiến II chấm dứt, các nhà sử học trên thế giới đã tranh luận rất nhiều về 2 vấn đề : các nước Anh, Mỹ có biết kế hoạch diệt chủng người Do Thái của phát xít Đức hay không, và nếu biết thì tại sao họ không ngăn chặn ? Chính quyền các nước phương Tây và một số nhà sử học cho rằng phương Tây không hay biết gì về kế hoạch ấy và do đó không ngăn chặn được. Ngược lại, một số nhà sử học cho rằng các nước phương Tây đã biết ý định của phát xít Đức nhưng vì những lý do nào đấy họ đã làm như không biết gì cả. 
Để cứu tính mạng của người Do Thái, lẽ ra ngay từ đầu các nước phương Tây đã phải tăng cường tiếp nhận người Do Thái di cư lánh nạn trốn khỏi sự đàn áp giết chóc của phát xít Hit-le, và khi biết chúng có kế hoạch diệt chủng toàn bộ người Do Thái ở châu Âu, thì Chính phủ các nước phương Tây phải lên tiếng phản đối. Chính vì họ không làm như vậy nên năm 1941 tổng số người Do Thái trên thế giới là 8,7 triệu người thì trong Đại chiến II đã có 5,8 triệu người bị phát xít Đức giết chết.

Sách “Tập bản đồ xung đột A Rập – It-xra-en” của Mac-tin Ghin-bơt in năm 1974 cho biết : sau khi Hit-le lên cầm quyền ở Đức (năm 1933), hàng trăm nghìn người Do Thái ở châu Âu đã di cư về xứ Pa-le-xtin hồi ấy do Anh uỷ trị, nơi đã có nhiều người A Rập và Do Thái cùng sống chung từ mấy nghìn năm nay. Họ mua đất của người A Rập với giá cao để định cư. Dòng người Do Thái đổ về Pa-le-xtin ngày một tăng đã làm người A Rập tức giận tấn công khủng bố họ. Chính quyền Anh đã hạn chế lượng người Do Thái di cư về đây. Năm 1939, Chính phủ Đức cho phép 250 nghìn người Do Thái sống ở Đức được di cư ra nước ngoài, nhưng chính quyền Mỹ đã hạn chế số người Do Thái được nhập cư vào Mỹ. Năm 1940 Quốc hội Mỹ bác bỏ Dự luật mở cửa bang A-la-xka cho người Do Thái lánh nạn. Năm 1941, Mỹ thắt chặt hạn ngạch nhập cư người Do Thái; năm 1943 lại từ chối đề nghị của Thuỵ Điển tiếp nhận 20 nghìn trẻ em Do Thái ở Đức di cư sang Mỹ. Hậu quả là về sau, trong 3 triệu người Do Thái sống ở Ba-lan thì 2,6 triệu người bị phát xít Đức giết ; Liên Xô (vùng Đức chiếm) – có 2,5 triệu, bị giết 750 nghìn; Ru-ma-ni – 1 triệu, bị giết 750 nghìn; Hung-ga-ri – 710 nghìn, bị giết 402 nghìn người v.v…

Theo một dự luật của Chính phủ Mỹ, ngày 26. 6. 2000, Viện Hồ sơ Quốc gia Mỹ công khai 400 nghìn trang hồ sơ tình báo tuyệt mật của cơ quan tình báo Mỹ thu được trong Đại chiến II. Qua các hồ sơ đó, dư luận vô cùng kinh ngạc khi được biết là các nước Anh, Mỹ không những nắm được các thông tin về kế hoạch diệt chủng người Do Thái của phát xít Đức, mà còn biết rất rõ mọi chi tiết của kế hoạch này.

Mùa hè năm 1943, quân đội Anh liên tục bắt và giải mã được một số bức điện của Sở Chỉ huy quân đội Đức tại Rô-ma (I-ta-li-a) gửi về Bộ Chỉ huy Tối cao ở Bec-lin. Nội dung các điện tuyệt mật này cho thấy : trong thời kỳ đầu chiến tranh, do trùm phát xít I-ta-li-a là Mut-xô-li-ni không tuân theo chủ trương của Hit-le về vấn đề người Do Thái, nên người Do Thái ở I-ta-li-a không bị xua đuổi giết hại. Tháng 7 năm 1943, Mut-xô-li-ni bị lật đổ, quân Đức chiếm miền Bắc I-ta-li-a. Hit-le ra lệnh cho lực lượng xung kích SS của Đức phải bắt giam toàn bộ người Do Thái ở I-ta-li-a đưa về các trại tập trung ở Đông và Nam Âu rồi “tiêu diệt về thể xác”. Nội dung các bức điện này như sau : – từ ngày 6 tháng 10 tiến hành đăng ký danh sách tất cả 8000 người Do Thái ở Rô-ma, trong 10 ngày phải xong; – ngày 11 tháng 10, Bec-lin trắng trợn ra lệnh phải lập tức tiêu diệt sạch người Do Thái sống trên đất I-ta-li-a, vì nếu làm chậm thì họ sẽ ẩn náu trong các gia đình người I-ta-li-a; – ngày 16 tháng 10, một bức điện từ Rô-ma báo cáo Bec-lin là đã bắt giữ được 1200 người Do Thái; – ngày 20 tháng 10, lực lượng SS ở Rô-ma báo cáo đã hoàn thành bắt giữ người Do Thái ở I-ta-li-a và đưa về trại tập trung Ao-xvit ở Ba-lan …

Sau này người ta mới biết là khi Đại chiến II chấm dứt, toàn bộ thành phố Rô-ma chỉ còn lại vài trăm người Do Thái thoát chết; trong số 120 nghìn người Do Thái ở I-ta-li-a có 9 nghìn người đã bị phát xít Đức giết. Rõ ràng Hit-le đã tiến hành một cuộc diệt chủng người Do Thái có tổ chức có kế hoạch mà không vấp phải sự phản đối công khai từ chính phủ Đồng minh nào !

Các bức điện được tình báo Anh giải mã đều lập tức chuyển đến lãnh đạo cấp cao của hai nước Anh, Mỹ. Thế nhưng cho tới nay các nhà sử học vẫn chưa khẳng định Thủ tướng Sooc-xin và Tổng thống Ru-dơ-ven đã đích thân đọc các bức điện ấy hay chưa, song chắc chắn là các nhà lãnh đạo cấp cao khác của hai nước này không thể không biết các bức điện đó. Đồng thời Anh, Mỹ còn có một nguồn thông tin quan trọng nữa lấy từ tình báo viên cài trong các cơ quan của Đức. Một tình báo Anh là cán bộ Bộ Ngoại giao Đức đã lợi dụng các chuyến đi công cán tại Thuỵ-sĩ (nước trung lập) để gặp kín Đa-let trùm tình báo Mỹ thông báo các tin quan trọng.

Các hồ sơ tuyệt mật gần đây được chính quyền Mỹ công khai trước dư luận cho thấy Đa-let đã được tình báo viên kể trên thông báo về kế hoạch của phát xít Đức dự định trong năm 1943 sẽ tiêu diệt hết người Do Thái ở I-ta-li-a. Trên thực tế, ngay từ đầu năm 1943 Chính phủ Anh, Mỹ đã biết rõ sự thật trong trại tập trung Ao-xvit, nhưng không hiểu tại sao họ vẫn im lặng.

Các tài liệu nói trên cũng cho thấy, phương Tây làm ra vẻ không biết gì về chuyện phát xít Đức diệt chủng người Do Thái là có 2 nguyên nhân : – một là dùng để đổi lấy sự hợp tác về công nghệ của phát xít Đức; – hai là để lên mặt đạo đức : tôi không ngăn chặn diệt chủng là do tôi không biết việc đó.

Sau khi Đại chiến II chấm dứt, đa số các nhà sử học do hâm mộ và kính trọng sâu sắc Sooc-xin và Ru-dơ-ven nên không tin (hoặc không muốn tin) rằng hai lãnh tụ này đã biết kế hoạch diệt chủng của Hit-le. Chẳng hạn, trong sách “Ao-xvit và các nước Đồng minh” xuất bản năm 1981, nhà sử học người Anh Ma-tin Ghin-bơt viết là đến mùa hè năm 1944, Sooc-xin và Ru-dơ-ven mới biết ít nhiều về việc phát xít Đức tàn sát hàng loạt người Do Thái.

Nhưng các hồ sơ tuyệt mật mới công bố gần đây đã đập tan luận điệu trên. Nhiều nhà sử học và chính khách đều bày tỏ sự tức giận và khó hiểu đối với việc Chính phủ Anh, Mỹ bao năm nay che giấu sự thật lịch sử quan trọng đó. Bà Ê-li-za-bet Hu-zman, cựu nghị sĩ và một trong những người dự thảo Dự luật công khai tội phạm chiến tranh của Mỹ, từng chất vấn : “Việc bóc trần sự thật sẽ đưa ra một câu hỏi về đạo đức : phải chăng sau khi chiến tranh chấm dứt thì các nước Đồng minh bắt đầu bao che cho bọn tội phạm chiến tranh Quốc xã ?” 
Dư luận thắc mắc về việc Toà án Nu-rem-be không xử tử tướng SS Đức Cac Uôn-phơ – kẻ đã dồn hàng chục nghìn người Do Thái ở I-ta-li-a vào các trại tập trung để dùng hơi ngạt giết chết, thế mà năm 1949 hắn lại được trả tự do, sống an nhàn ở Muyn-khen cho tới năm 1962 mới vào tù do bị tố cáo có liên quan đến cái chết của 300 nghìn người Do Thái trong trại tập trung Tre-blin-ka ở Ba-lan; sau đó hắn bị một toà án của Tây Đức xử 15 năm tù. Các hồ sơ mới công bố gần đây cho thấy, sở dĩ Uôn-phơ không bị trừng trị xứng đáng là do hắn có “quan hệ đặc biệt” với Đa-let, trùm tình báo Mỹ dưới quyền tướng Ai-xen-hao, và do hắn là kẻ đã “có công” thu xếp cho quân Đức đóng ở I-ta-li-a đầu hàng Đồng minh. 
Các hồ sơ mật mới công khai gần đây cho thấy, sau Đại chiến II, Mỹ và Anh có kế hoạch săn lùng tìm bằng được các nhà khoa học Quốc xã Đức hàng đầu nhằm sử dụng vào việc chế tạo các vũ khí mới chống lại Liên Xô, – trong việc này họ cần sự giúp sức của các sĩ quan SS hoặc Ghet-xta-pô Đức. Thậm chí Mỹ và Anh còn giúp một số quan chức phát xít Đức từng giết hại nhiều thường dân các nước trốn sang Nam Mỹ để đổi lấy sự hợp tác của chúng. Sau này, vào thập kỷ 80, người ta đã phát hiện và bắt giữ một số tên Quốc xã Đức trốn tránh ở Nam Mỹ.

Trước sự thật nói trên, các nhà sử học cho rằng nên viết lại lịch sử đoạn nói về “các nhà lãnh đạo Đồng minh không biết gì về vụ diệt chủng lớn trong Đại chiến II”. Một số nhà sử học cấp tiến cho rằng Sooc-xin và Ru-dơ-ven phải chịu trách nhiệm về đạo đức đối với những người Do Thái bị phát xít Đức tàn sát. Một chuyên gia của Viện Hồ sơ Quốc gia Mỹ nói : “Nếu ngày ấy chỉ cần Sooc-xin hoặc Ru-dơ-ven ra một tuyên bố công khai thì đã có thể cứu sống hàng chục nghìn người Do Thái ở I-ta-li-a, hoặc ít nhất cũng có thể nhắc nhở người Do Thái ở đấy cảnh giác trốn khỏi tay bon phát xít Đức. Thế nhưng hai vị lãnh đạo nổi tiếng này đã chọn cách im lặng. Họ làm thế là để không gây phương hại đến hoạt động giải mã của tình báo Anh, Mỹ (tránh để Đức biết Đồng minh đã nắm được mật mã của Đức).”

Ngoài ra, hồ sơ mật mới ra công khai còn cho biết, Thủ tướng Anh Sooc-xin thoạt đầu có ý định tốt. Ông từng trao đổi với Ngoại trưởng Anh I-đơn (Anthony Eden) xem có nên ra một tuyên bố lên án hành động diệt chủng của phát xít Đức hay không, nhưng I-đơn kịch liệt phản đối, với lý do có ra tuyên bố thì cũng chẳng ngăn cản được Hit-le, và cũng không có lợi cho việc chiến thắng phát xít Đức. Sooc-xin đã nghe theo I-đơn. Đây là một sai lầm của Thủ tướng Anh.

Việc Chính phủ Anh và Mỹ chậm công bố các hồ sơ mật của Đại chiến II đã bị các nhà sử học phê phán. Mọi người đều biết, với lý do “an ninh quốc gia”, hai nước này đã trì hoãn mãi việc công bố các tài liệu tình báo mật nói trên. Dư luận ngờ rằng họ làm thế là để bảo vệ hình ảnh các nhà lãnh đạo hai nước ấy, và để trốn trách nhiệm đối với tội ác diệt chủng của phát xít Đức.

Ngày nay, các nước lớn vì quyền lợi ích kỷ của họ đã làm ngơ hoặc nhẹ tay trước tội ác diệt chủng của bọn Pôn-pốt ở Căm-pu-chia trong thập kỷ 70. Cho tới nay, dù Pôn-pôt chết đã khá lâu nhưng tội ác tiêu diệt 2 triệu đồng loại của hắn và đồng bọn vẫn chưa được đưa ra Toà án công lý xét xử. Đây cũng là một thí dụ nữa cho thấy nhân dân các nước phải tự mình mạnh dạn đấu tranh vạch trần tội ác diệt chủng chứ không thể trông chờ “lòng tốt” của các nước lớn. 

Nguyễn Hải Hoành (biên dịch)
Nghiencuulíchu

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Xem nhiều nhất
Xem dự báo thời tiết tại
Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 81
  •   Máy chủ tìm kiếm 4
  •   Khách viếng thăm 77
 
  •   Hôm nay 18,956
  •   Tháng hiện tại 523,400
  •   Tổng lượt truy cập 28,504,916
Thăm dò ý kiến

Bạn có nhận xét gì về lượng thông tin hàng ngày trên nguoivietinfo.ru

USD 58.8987
EUR 69.4298
HKD 75.3855
JPY 52.5248
AUD 45.2813
BGN 35.4961
CAD 46.1770
CHF 59.6020
DKK 93.2605
GBP 79.0892
KRW 54.0588
SGD 43.7583
QUẢNG CÁO TRÁI
Banner