Hãy học cách cha ông biến hiền tài trở thành nguyên khí quốc gia

Thứ hai - 30/07/2018 05:15

Hơn 500 trước, Tiến sĩ Thân Nhân Trung đã thảo dòng chữ này để khắc trên văn bia đá Quốc Tử Giám:

1

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Tháng năm đằng đẵng trôi qua, bao nhiêu lần phong ba, tuế nguyệt, bia đá cũ cũng mòn nhưng lời nói ấy hậu thế vẫn chưa quên. Hơn 500 năm sau, khi giáo dục đang được coi là quốc sách, người Việt vẫn băn khoăn một câu hỏi: Làm sao để bảo tồn nguyên khí của quốc gia đây? 

Các dân tộc, trong mỗi thời kỳ gian khó, đều phải dựa vào giáo dục mới có thể chấn hưng được nguyên khí của mình. Nhưng chấn hưng cái gì, trọng dụng người tài như thế nào, gây dựng nền móng ra sao lại không phải là câu hỏi có thể trả lời trong ngày một ngày hai. 

Chúng ta hãy tạm quên đi những câu chuyện buồn của giáo dục trong khoảng chục năm trở lại đây từ chuyện gian lận thi cử, chạy lớp chạy trường, bạo lực học đường đến “ngồi nhầm chỗ”. Chúng ta cũng hãy tạm thôi không chỉ trích những yếu kém của ban ngành liên quan (bởi chừng như khả năng của họ cũng là rất có hạn). Hãy nhìn lại quá khứ để hiểu rằng cha ông ta đã làm thế nào chấn hưng nguyên khí nước nhà? 

Nhà Lý, nhà Trần lập nền Nho học, gây dựng nguyên khí

Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu, đặt viên gạch đầu tiên cho nền móng khoa cử phong kiến Việt Nam. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” (kể từ đây gọi tắt là Toàn thư) chép: “Mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây”. Ban đầu Văn Miếu được lập ra với mục đích đào tạo thế hệ cầm quyền tương lai (con của vua chúa, quan lại). Sau này, khi nhận ra được tầm quan trọng của giáo dục, các vua nhà Lý đã nhanh chóng cho tổ chức những khoa thi tuyển nhân tài rộng rãi trên khắp đất nước.

Năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên có tên là “Minh Kinh bác học”. Toàn thư chép: “Ất Mão, (Tống Hy Ninh năm thứ 8). Mùa xuân, tháng 2, xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học”. Kỳ thi này có 10 người trúng tuyển. Lê Văn Thịnh trở thành thủ khoa đầu tiên trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, sau này làm đến chức Thái sư. 

Dưới thời Lý, các kỳ thi vẫn còn mang đậm màu sắc Tam giáo, tức là câu hỏi trong đề có thể trải rộng khắp cả 3 lĩnh vực Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Nếu muốn đỗ đạt cao, vinh hiển, các thí sinh buộc phải thông thạo kiến thức Tam giáo. Đây rõ ràng không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Nó cũng là minh chứng cho thấy tiêu chuẩn khắt khe của khoa cử dưới thời Lý, nếu không phải là người thực tài thì sẽ không có cơ hội.
 
2

Tượng vua Lý đặt bên trong Quốc Tử Giám.

Dù nền khoa cử mới đang ở dạng phôi thai nhưng các vua nhà Lý đã tổ chức được 7 kỳ thi tuyển chọn nhân tài. Các môn thi cũng rất đa dạng bao gồm: toán, viết, luật, văn học… đáp ứng đầy đủ nhu cầu của nền hành chính. 

Đến thời Trần, nền giáo dục bước sang một chương mới với việc Nho học dần được coi trọng dù Phật giáo vẫn có ảnh hưởng lớn nhất. Các kỳ thi tuyển lựa nhân tài giờ đây chủ yếu nằm trong phạm vi kiến thức Nho gia bằng tên gọi kỳ thi “Thái học sinh”, với các bài thi: ám tả cổ văn, kinh nghĩa, thơ phú, chế, chiếu, biểu, đối sách, văn sách…  Trong thời gian tồn tại của mình, nhà Trần đã tổ chức được 14 khoa thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), lấy 283 người đỗ. 

Nền giáo dục Nho học dưới thời các vua Trần đã đào tạo ra những nhân tài thực sự cho quốc gia. Người đỗ đạt trong các kỳ thi được bổ nhiệm vào Viện Hàn lâm, các cơ quan hành khiển, được sung vào phái bộ sứ thần hoặc tiếp sứ phương Bắc. Những cái tên nổi tiếng nhất phải kể đến Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát… đặc biệt là nhà giáo, nhà Nho lỗi lạc Chu Văn An. 

Ngoài Quốc Tử Viện là trường Nho học cấp cao, thời Trần còn nhiều trường Nho học khác như trường phủ Thiên Trường, trường Lạn Kha thư viện (ở chùa Phật Tích), trường của Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc và trường Cung Hoàng của Nho sĩ Chu Văn An, trước đó đã từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám.

Năm 1397, triều đình lại đã chính thức sai đặt nhà học và chức học quan (được nhà nước trợ cấp phần ruộng công thu hoa lợi) ở các lộ phủ địa phương như Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, với chức năng là “giáo hóa dân chúng, giữ gìn phong tục, dạy bảo học trò thành tài nghệ, chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình”. 

Trong lịch sử Việt Nam, Lý – Trần được đánh giá là thời kỳ vương triều phong kiến phát triển cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự… Từ vua quan đến trăm họ bách tính không chỉ tín ngưỡng sâu sắc Phật Đạo Thần mà còn vô cùng trọng nể sự học, coi trọng hiền tài. Người Việt thời kỳ này thực sự dựng lập được một chỗ đứng vững vàng trên bản đồ Đông Á nơi họ có thể đối diện sòng phẳng với các vương triều Trung Hoa hùng mạnh ở phía bắc (Tống, Nguyên) cũng như những nước chư hầu hung hãn phía nam (Chăm Pa, Chân Lạp). Tất cả chẳng phải vì chính sách yêu chuộng người tài, trọng thị đạo học đó sao? 

Vua Lê Thánh Tông bồi bổ nguyên khí quốc gia ra sao?

Là quân vương vĩ đại trong lịch sử nước Việt, cách Lê Thánh Tông trị nước ắt có chỗ hơn người. Ông dành một sự quan tâm đặc biệt tới việc giáo dục, bồi dưỡng văn hóa cho trăm họ. Dưới thời của ông có rất nhiều cơ quan chuyên trách về văn hóa, giáo dục cho quốc gia ví như: Hàn lâm viện, Quốc sử viện, Quốc Tử Giám, nhà Thái học… Ông đặt ra chức “Ngũ kinh bác sĩ”, chọn nhiều người hiền tài, giỏi giang, mỗi người chuyên nghiên cứu về một loại kinh trong Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu) để giảng dạy trong Quốc Tử Giám. Đó có thể coi là những thầy giáo chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam vậy. 

Ngoài kinh đô, ở các địa phương, vua Lê Thánh Tông còn cho đặt chức “Giáo tập bác sĩ” ở các vệ quân và chức Huấn đạo chuyên dạy Nho học ở các châu phủ. Năm 1484, vua cho sửa sang, mở rộng Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Toàn thư chép: “[Vua] làm điện Đại Thành ở Văn Miếu cùng nhà đông vu, tây vu, điện Canh phục, kho chứa ván in và đồ tế lễ, nhà Minh luân, giảng đường đông tây, nhà bia đông tây, phòng học của sinh viên ba xá, và các cửa, xung quanh xây tường bao”. Vua còn ra lệnh cho các phủ hàng năm phải làm lễ tế ở Văn miếu của địa phương mình vào các ngày thượng tuần tháng 2, tháng 8 (âm lịch). 

Các khoa thi được tổ chức đều đặn dưới thời vua Lê Thánh Tông trị vì, cứ 3 năm một lần mở hội thi. Sĩ tử cả nước lại miệt mài sôi kinh nấu sử với hy vọng một ngày kia được ra giúp nước giúp đời, đóng góp tài trí cho cuộc phục hưng quốc gia sau quá nhiều sóng gió trong kỷ thuộc Minh trước đó. 
 
3

Thời vua Lê Thánh Tông đã rất coi trọng việc đào tạo con người, chú trọng Nho giáo làm phong trào sĩ học lên cao. 

Các quy định về khoa cử dưới thời Lê Thánh Tông cũng hết sức nghiêm ngặt. Năm 1462, quy định trong các kỳ thi Hương nói rõ rằng: Người muốn dự thi, dù là bình dân hay quân lính, đều phải đi khai tên và căn cước ở đạo của mình trong thượng tuần tháng 8 (âm lịch) năm 1462. Sau đó, quan coi đạo sẽ cùng xã trưởng làm giấy cam kết về đạo đức của người ứng thí, ai được cam kết là có đức độ, trong sạch thì mới được vào thi. Những người “bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toa” thì học rộng, giỏi văn chương đến mấy cũng không được đi thi. 

Như vậy vấn đề đạo đức được đặt lên hàng đầu trong việc tuyển lựa nhân tài. Không có đạo đức thì sẽ bị tước cơ hội bước vào con đường hoạn lộ, công danh, đừng nói đến việc trèo cao, mưu cầu vinh hiển cho bản thân mình. Đó cũng chính là nền tảng kiên cố của Nho gia hàng nghìn năm qua, luôn trọng người quân tử, khinh kẻ tiểu nhân, trọng đức khinh tài vậy. 

Tổng cộng từ năm 1463 đến 1496, vua Lê Thánh Tông đã mở 12 khoa thi lớn, lấy đỗ tổng cộng 9 trạng nguyên và 501 tiến sĩ. Sử gia Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” (“Khoa mục chí”) đã đánh giá rằng: Khoa cử các đời, thịnh nhất là đời Hồng Đức. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau không thể theo kịp”. 

Nước Việt dưới thời vua Lê Thánh Tông đạt đến đỉnh cao của sự hưng thịnh về tất cả mọi phương diện. Trong 38 năm trị vì của mình, vị vua nhân từ, bác ái, tài năng này đã thay đổi hẳn bộ mặt của Đại Việt trước đó vốn hỗn loạn vì những cuộc thanh trừng nội bộ và tranh chấp quyền lực.

Thậm chí, sự thành công của ông còn được các Nho thần, sử gia sau này đánh giá là ngang với công tích của các hoàng đế Trung Hoa nổi danh như Hán Vũ Đế hay Đường Thái Tông: “Vua sáng lập chế độ văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua anh hùng tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được”. Điều đó chắc chắn là nhờ một phần lớn ở chính sách trọng dụng hiền tài, coi hiền tài như nguyên khí quốc gia của vị quân vương vĩ đại này. 
 
4

Thời kỳ nhà Lê thịnh trị đặt nền móng cho các thể chế giáo dục nghiêm khắc. 

Nguyên khí quốc gia ở đâu?

Thực ra bất kể triều đại nào, thể chế nào muốn vững bền cũng không thể quên cái gốc là giáo dục và trọng dụng nhân tài. Từ thế kỷ 11, các vua nhà Lý (Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông) đã cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám, trung tâm đào tạo nhân tài lớn đầu tiên của nước Việt. Đến thế kỷ 13 và 14, các vua Trần (Trần Thái Tông, Trần Minh Tông) cũng liên tục mở rộng quy mô của trường, tuyển chọn và đào tạo cả những con em nhà thường dân có sức học xuất sắc. Đến đời Hậu Lê thế kỷ 15, nền giáo dục Nho học của nước Việt lên đến đỉnh cao. Vua Lê Thánh Tông cho dựng bia ghi danh những người đỗ Tiến sĩ, cứ 3 năm một lần đều đặn tổ chức những kỳ thi tuyển chọn nhân tài.

Đến thế kỷ 19, 20, người Pháp mang theo một nền học vấn thực dụng thiên về khoa học, kỹ thuật đã khiến nền tảng Nho học gần 1000 năm của nước Việt bỗng trở thành thứ không hợp thời. Nhiều nhà Nho vứt bỏ bút lông cầm bút sắt, các ông đồ không còn gõ đầu trẻ mà chuyển sang viết sớ, viết câu đối chữ Nho, những kỳ thi Nho giáo lụi tàn và chấm dứt chính thức vào năm 1919, cả một nền học vấn khoa bảng gìn giữ truyền thống suốt 1000 năm một chốc bị phá bỏ. 

Nhưng khi cả xã hội đang quay cuồng chạy theo cuộc Âu hóa mãnh liệt, người ta chỉ coi Nho học là một thứ học vấn lỗi mốt, tốt hơn cả là nên dẹp đường cho cho Tây học, khoa học tiến lên, chữ Nho nên nhường lại mảnh đất cuối cùng cho chữ Tây, chữ quốc ngữ. Điều diễn ra tiếp theo có lẽ nhiều người đã biết. Xã hội Việt Nam thế kỷ 20 trải qua một cơn chuyển dạ vô cùng dữ dội. Đó là cái xã hội nửa Tây nửa ta, mạch nguồn truyền thống đã bị dứt bỏ trong khi nếp văn minh mới hãy còn quá xa vời. Xã hội bình ổn, trung dung mà Nho học gây dựng qua hàng nghìn năm nay bỗng trở nên chao đảo, ngả nghiêng, rối như tơ vò. 
 
5
 
Từ khi chữ viết latinh được người Pháp du nhập, chữ Nho và nền Nho học trở thành một thứ hoài cổ, cũng chỉ còn lại dư vị từ những ông đồ viết chữ mà thôi.

Ngẫm lại, thế kỷ 21 này, chẳng phải nước Việt cũng đang chuyển mình vào một thời kỳ hết sức tương tự đó sao? Cái gọi là cuộc cách mạng khoa học công nghệ vũ bão, cái gọi là kinh tế tri thức, thời đại 4.0… đang cuốn cả xã hội vào vòng xoáy khoa học, kỹ thuật và lợi ích. Những giá trị truyền thống vốn đang thoi thóp giờ gần như lịm tắt hẳn. Và một câu hỏi không lời đáp vẫn còn treo lơ lửng ở đó như một ánh mắt xoáy sâu vào hư vô đầy vô vọng:

Làm thế nào để chấn hưng nguyên khí quốc gia?

Văn Nhược / ĐKN
(Ảnh: Wikipedia)

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Xem nhiều nhất
Xem dự báo thời tiết tại
Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 42
  •   Máy chủ tìm kiếm 9
  •   Khách viếng thăm 33
 
  •   Hôm nay 25 226
  •   Tháng hiện tại 291 486
  •   Tổng lượt truy cập 33 536 888
Thăm dò ý kiến

Bạn có nhận xét gì về lượng thông tin hàng ngày trên nguoivietinfo.ru

QUẢNG CÁO TRÁI
Banner