Người Việt Info

http://nguoivietinfo.ru


Mặn mà nhiệt điện than: Lối thoát nào cho Việt Nam?

1

1

Công nghệ năng lượng tái tạo đang trở nên cạnh tranh hơn về chi phí so với các công nghệ nhiệt điện than.
Không cần thêm các nhà máy nhiệt điện than

Theo nghiên cứu phân tích tiềm năng đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia, tiếp cận theo hướng chi phí thấp nhất đồng thời xem xét chi phí ngoại biên và phát thải các bon do Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) phối hợp với Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) và chuyên gia Nguyễn Quốc Khánh thực hiện, thì năm 2020 là năm đạt đỉnh của công suất điện than ở Việt Nam.

Vì vậy, sau năm 2020, Việt Nam có khả năng không cần xây dựng thêm các nhà máy điện than mới mà vẫn đảm bảo được hệ thống năng lượng an toàn và khả thi về kinh tế.

Cắt giảm 30.000 MW điện than, thay vào đó là ưu tiên sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả và tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo kết hợp với điện khí là hướng đi đúng đắn để đáp ứng nhu cầu năng lượng và phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai.

Kết quả chính của nghiên cứu cũng chỉ rõ, Việt Nam có tiềm năng cao về sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả (SDNLTKHQ).
 
1

Hạn chế phát triển nhiệt điện than, cần phát triển năng lượng tái tạo

Hiện tại giá nhiệt điện than rẻ hơn năng lượng tái tạo (NLTT) vì chưa bao gồm chi phí ngoại biên (là chi phí môi trường, xã hội, sức khỏe). Thực tế, đây là chi phí có thực mà người dân và chính phủ đang và sẽ phải gánh chịu chứ không phải nhà đầu tư.

Nếu xem xét chi phí này thì ngay tại thời điểm nghiên cứu năm 2017, tất cả các công nghệ NLTT đều trở nên cạnh tranh hơn về chi phí so với các công nghệ nhiệt điện than.

Kịch bản đề xuất có thể mang lại những lợi ích sau cho Việt Nam: Tăng cường an ninh năng lượng do giảm tỷ lệ nhập khẩu than; Không cần phải xây dựng thêm khoảng 30.000 MW nhiệt điện than vào năm 2030, tương đương với khoảng 25 nhà máy điện than.

Không phải huy động 60 tỷ đô la Mỹ vốn đầu tư cho những dự án nhiệt điện than này; Không phải đốt khoảng 70 triệu tấn than/năm tương ứng với 7 tỷ đô la Mỹ/năm cho việc nhập khẩu nhiên liệu; Giảm phát thải 116 triệu tấn CO2/năm vào năm 2030 so với QHĐ VII ĐC, đảm bảo Việt Nam bám theo mục tiêu của Thỏa thuận Paris.

Giảm phát thải bụi và các chất ô nhiễm không khí và nguồn nước. Ước tính kịch bản này sẽ giúp tránh được khoảng 7600 ca tử vong sớm hàng năm vào năm 2030 so với QHĐ VII ĐC.

Báo cáo cũng đưa ra kiến nghị, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần được lựa chọn là phương án ưu tiên đầu tiên trước khi tính tới nhu cầu phát triển nguồn điện mới bởi đây sẽ là phương án tiết kiệm nhất và phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay.

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần được quy định thực hiện bắt buộc, thay vì chỉ dừng lại ở khuyến khích như hiện tại đồng thời chính phủ cần đưa ra các chính sách ưu đãi để thúc đẩy các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Cần phát triển mạnh điện mặt trời trên mái nhà vì nó có thể làm giảm nhu cầu phụ tải đỉnh, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam. Chi phí ngoại biên cần được tính toán đầy đủ vào chi phí sản xuất điện để có đánh giá công bằng hơn trong việc lựa chọn loại hình năng lượng cho tương lai.

Tiềm năng nhiều nguồn năng lượng tái tạo

Trong báo cáo cũng nêu rõ tiềm năng của từng nguồn năng lượng, như thủy điện, tiềm năng kỹ thuật khoảng 18.000 – 20.000 MW (tương đương 75-80 tỷ kWh/năm).

Tiềm năng thủy điện nhỏ (với công suất nhỏ hơn 30MW) khoảng 7.000 MW. Vào cuối năm 2015, có khoảng 16.569 MW thủy điện, chiếm khoảng 43% tổng công suất được lắp đặt trong đó thủy điện lớn là 14.585 MW và thủy điện nhỏ là 1.984 MW. Sản lượng từ thủy điện chiếm 35% tổng sản lượng điện trong năm 2015.

Tuy nhiên, Việt Nam lại có tiềm năng năng lượng gió cao nhất trong 04 quốc gia. Tuy nhiên, nhiều người nghĩ rằng bản đồ gió của Ngân hàng Thế giới quá lạc quan và có thể có sai số đáng kể vì tiềm năng được dựa trên mô hình mô phỏng. Tổng tiềm năng gió trên bờ  ước tính khoảng 27 GW.

Việt Nam có tiềm năng năng lượng mặt trời (NLMT) khá tốt, đặc biệt là khu vực phía Nam (AECID-MOIT.2014). Bức xạ mặt trời trung bình ở khoảng 5 – 5,5 kWh/m2/ngày, tương đương với Thái Lan - nơi có tỷ lệ sử dụng NLMT tăng mạnh trong năm qua.

Tuy nhiên, nguồn NLMT ở Việt Nam không phân bố đồng đều giữa các địa phương. Bức xạ mặt trời có mối tương quan với vị trí của vùng so với đường xích đạo; cao nhất ở miền Nam và tương đối tốt ở miền Trung. Hơn nữa, bức xạ mặt trời cũng thay đổi theo tháng và trong một ngày.

Cho nên, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần được lựa chọn là phương án ưu tiên đầu tiên trước khi tính tới nhu cầu phát triển nguồn điện mới bởi đây sẽ là phương án tiết kiệm nhất và phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay.

Để thực hiện được điều này, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần được quy định thực hiện bắt buộc, thay vì chỉ dừng lại ở khuyến khích như hiện tại đồng thời chính phủ cần đưa ra các chính sách ưu đãi để thúc đẩy các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Đừng để mất cơ hội với năng lượng sạch

Đưa ra quan điểm về vấn đề này, trao đổi với Đất Việt, PGS. TS Lê Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu - Trường ĐH Cần Thơ cho rằng, nếu tiếp tục xây thêm các nhà máy nhiệt điện than, chúng ta sẽ mất cơ hội đầu tư vào năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

Ông Barack Obama khi còn là Tổng thống Mỹ, sang thăm Việt Nam đã có cam kết Mỹ hỗ trợ Việt Nam xây dựng phát triển năng lượng gió với công suất lắp đặt là 1.000 MW.

Mới đây nhất, ngày 20/10/2016, Ủy ban Nhân dân thành phố Hội An và ​thành phố Wernigerode (Cộng hòa liên bang Đức) khởi động Dự án “Xây dựng hệ thống cung cấp điện từ năng lượng mặt trời để vận hành hệ thống âm thanh và chiếu sáng tại khu phố cổ Hội An".

Như vậy, chúng ta có thể áp dụng các mô hình đó để xây dựng nhiều nhà máy khác. Các chuyên gia đã nhận định, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển các năng lượng tái tạo như gió, mặt trời, sóng biển, thủy triều chưa kể tới các năng lượng sinh học khác vì sinh khối trong sản xuất nông nghiệp rất lớn mà chúng ta chưa tập trung khai thác.

Còn nhiều người cũng nói rằng làm nhiệt điện than thì rẻ. Tuy nhiên, chi phí rẻ là vì nhà đầu tư không tính cùng các chi phí tác động tới đời sống, xã hội, môi trường, sức khỏe người dân ở xung quanh đó.

Nếu được tính toán vào thì giá của làm nhiệt điện than sẽ cao hơn làm các nguyên liệu khác rất nhiều. Các bằng chứng khoa học đã chứng minh điều đó. Đó là lý do vì sao một số quốc gia khác đã phải có kế hoạch đóng cửa các nhà máy điện than.

Ví dụ như Mỹ dự định đóng toàn bộ nhà máy đốt than vào năm 2022 và còn có khả năng đóng sớm hơn. Đây cũng là bằng chứng cho thấy những tiến bộ về khoa học cho những lợi thế tốt hơn về môi trường.

Hoặc Chính phủ Úc đang xem xét đề xuất đóng cửa các mỏ than do nhận thức rằng than đá góp phần phát thải khí nah2 kính dẫn đến biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng môi trường và xã hội, đặc biệt từ nguồn nguyên liệu này.

Bàn về nguồn năng lượng thay thế cho nhiệt điện than, ông Trần Đình Sính - Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) nhận định, điện mặt trời và điện gió là khả thi nhất.

Cụ thể, nếu thay thế bằng nhiệt điện khí thì điểm lợi là nhiệt điện khí chỉ phát thải CO2 và mức độ phát thải chỉ bằng một nửa nhiệt điện than, không phát thải bụi nên có thể làm được.

Tuy nhiên, nếu làm thì Việt Nam sẽ phải nhập khẩu khí. Việt Nam có mỏ khí Cá Voi Xanh, dự kiến từ nay đến năm 2025 khai thác trên 10 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm xung quanh mỏ khí này, do đó, nếu phát triển nhiệt điện khí chắc chắn Việt Nam phải nhập khẩu.

Trong khi đó, tiềm năng về gió, mặt trời của vùng ĐBSCL rất lớn. Nếu xây dựng một nhà máy nhiệt điện than thì phải 30-40 năm nữa mới đóng cửa được, nếu đóng cửa trước thì phải đền bù cho nhà đầu tư, trong khi lại gây ô nhiễm. Còn điện mặt trời cứ 4-5 năm thì giá lại giảm một nửa.

Chính vì thế, ông Trần Đình Sính cho rằng, Việt Nam cần tập trung cho kế hoạch phát triển năng lượng sạch cho ĐBSCL, phù hợp với kế hoạch tổng thể mới về môi trường, kinh tế và xã hội của khu vực này.

ĐVO