Hồ sơ tư liệu về phát xít Nhật

Thứ hai - 27/11/2017 20:59

“Sáng sớm hôm nay, hải quân Đế Quốc đã tiến hành một cuộc tập kích lớn bằng máy bay vào hạm đội và binh chủng hàng không Mỹ tại Trân Châu cảng, chiến quả huy hoàng.”

 
1

Đặc điểm của phát xít Nhật
 
2

Võ sĩ Nhật
 
Chủ nghĩa phát xít Nhật Bản có nguồn gốc lịch sử lâu đời hơn rất nhiều so với phát xít Ý và Đức. Từ thế kỷ IX, thế lực quân phiệt – một số ít dòng họ dựa trên sức mạnh của các võ sĩ (samurai) – đã nắm quyền cai trị nước Nhật, triều đình chỉ còn là chính quyền trên hình thức. Cuối thế kỷ XII, chính quyền hoàn toàn vào tay tập đoàn quân phiệt gọi là Mạc Phủ do shogun (tướng quân) đứng đầu, quyết định cả việc phong ai trong hoàng tộc làm Nhật Hoàng. Samurai nắm hết các cấp chính quyền địa phương. Hệ thống giới luật của họ – được gọi là Võ Sĩ Đạo (Bushido) [1] – đã trở thành hệ thống đạo đức của toàn dân Nhật, đề cao lòng dũng cảm, tự trọng đến cực đoan và trung thành tuyệt đối với nhà vua. Không đâu trên thế giới có tục vì để giữ danh dự mà mổ bụng tự sát như nước Nhật.
 
 
Đến năm 1867, Nhật Hoàng Meiji (Minh Trị) mới phục hồi quyền lực cho triều đình, bãi bỏ chế độ samurai, lập chế độ quân chủ lập hiến. Tuy vậy thế lực quân phiệt vẫn có ảnh hưởng lớn trong đời sống; nghị viện có rất ít quyền lực; nhà vua đồng thời là Thống soái Tối cao quân đội và trực tiếp chỉ định Thủ tướng. Dân Nhật tin rằng đất nước họ là của thần thánh, dân tộc Nhật là hậu duệ của Nữ thần Mặt trời Amaterasu, Nhật Hoàng không phải là người thường mà là thần thánh, mọi người phải tuyệt đối trung thành với Nhật Hoàng, coi nhà vua là biểu tượng của đất nước.
 
Trong Minh Trị Duy Tân, với khẩu hiệu “Phú quốc cường binh” “Thoát Á nhập Âu”, Nhật đã phát triển mạnh công nghiệp nặng. Giai cấp tư sản Nhật ra đời và nhanh chóng lớn mạnh, hình thành nhà nước phong kiến-tư bản, đối nội thi hành sự thống trị độc tài chuyên chế, đối ngoại ra sức thôn tính các nước xung quanh để biến Nhật thành một đế quốc hùng mạnh của châu Á. Công nghiệp vũ khí và lực lượng quân đội nhanh chóng phát triển. Nhật lần lượt đánh bại Trung Quốc và Nga trong các xung đột năm 1894 và 1904-1905, buộc Trung Quốc phải cắt bán đảo Liêu Đông và đảo Đài Loan, Bành Hồ cho Nhật. Thế lực quân phiệt Nhật lấn áp dần phái dân sự, chính sách xâm lược được tiến hành dưới chiêu bài tạo dựng một “Vành đai Đại Đông Á phồn vinh”. Tháng 9. 1931, Nhật chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc rộng 1 triệu km2 rồi lập “Mãn Châu Quốc”, dựng Phổ Nghi làm bù nhìn đứng đầu. Đầu 1932, Nhật tấn công Thượng Hải. Ngày 7.7.1937, Nhật gây ra vụ Lư Câu Kiều, chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Tháng 11, Nhật chiếm Thượng Hải; tháng 12, chiếm Nam Kinh, thủ đô Chính phủ Trung Quốc và gây ra vụ thảm sát 300 nghìn người Trung Quốc ở đây. Tháng 8.1936, Chính phủ Nhật xác định Nam tiến tức “phát triển xuống vùng biển phía Nam” là “quốc sách cơ bản”, đầu tiên chúng chiếm đảo Hải Nam và Trường Sa (2. 1939).
 
3
Một sĩ quan Nhật chặt đầu người và cho chụp ảnh
 
Đối nội, bè lũ quân phiệt Nhật phản đối lập Chính phủ dân sự, thời gian 1921-44 chúng gây ra ra 64 vụ bạo lực chính trị, từ thập kỷ 30 chúng nắm hầu hết quyền lực. Nhật Hoàng Hirohito (Dụ Nhân, 1901-1989) lên ngôi từ 1926, lấy niên hiệu là Showa (Chiêu Hoà). Hirohito không đấu tranh với cánh hữu quân phiệt mà còn a dua thi hành chính sách của chúng. Năm 1932, các sĩ quan trẻ ám sát Thủ tướng ôn hoà Tsuyoshi Inukai. Tháng 2.1936, chúng làm đảo chính lật đổ Chính phủ Okada, tuy bất thành song chúng đã ám sát nhiều quan chức cấp cao ôn hoà. Khắp nước Nhật bao trùm một không khí cuồng tín, hiếu chiến, không một ai dám tỏ ý chống lại chính quyền hoặc nhà vua. Hãy so sánh: nước Đức Hitler cũng phát xít hiếu chiến nhưng còn có không ít người chống lại Hitler, chứng cớ là đã có hơn 5000 người Đức bị hành quyết vì định ám sát hắn, trong đó có cả Thống chế Rommel, Tư lệnh quân đội Đức tại Bắc Phi.
 
Chiến tranh Thái Bình Dương
 
Sau khi Đức gây chiến ở châu Âu và liên tiếp giành thắng lợi như chẻ tre, bè lũ quân phiệt Nhật càng nôn nóngNam tiến. Đầu năm 1940, Chính phủ Nhật tái xác định quốc sách Bắc thủ, Nam tiến, coi tiến xuống phía Nam là mục tiêu chính, nhằm: – cắt đường viện trợ của Mỹ cho Trung Quốc qua Đông Dương và Miến Điện, qua đó buộc Trung Quốc đầu hàng, vì lúc này Nhật đang bị sa lầy ở Trung Quốc rộng mênh mông; – chiếm tài nguyên Đông Nam Á để phục vụ kinh tế Nhật; – tranh thủ khi Anh, Pháp đang bị Đức đánh cho tơi bời ở châu Âu, Nhật cướp các thuộc địa của họ ở châu Á. Nhật phải “Bắc thủ” là do âm mưu “Bắc tiến” từng bị Liên Xô đập tan ở Khalkhingôn (5.1939); và tháng 8.1939 Đức – Liên Xô ký Hiệp ước không xâm phạm với nhau, Nhật biết không thể một mình chọi với Liên Xô.
 
Lúc này Mỹ là cản trở chính cho việc Nam tiến của Nhật, vì Hà Lan đã đầu hàng Đức; Anh đang bị máy bay Đức ném bom dữ dội và đang lo bị Đức tấn công, không sức đâu để ý đến các thuộc địa của mình ở châu Á. Mâu thuẫn Mỹ-Nhật ngày một gay gắt, trước hết là do Nhật xâm lược Trung Quốc, các quyền lợi của Mỹ tại Trung Quốc bị xâm phạm. Tính đến tháng 11.1939, Mỹ đã gửi 382 công hàm kháng nghị Nhật. Mỹ tăng viện trợ cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch chống Nhật và không thừa nhận Chính phủ Uông Tinh Vệ thân Nhật. Thứ hai, Mỹ chiếm Philippines làm thuộc địa và quan tâm đến tài nguyên vùng Đông Nam Á, việc Nhật Nam tiến sẽ đe doạ lợi ích của Mỹ. Ngoài việc kháng nghị, Mỹ còn tăng gấp đôi lực lượng hải quân ở vùng này và tuyên bố Mỹ sẽ không để yên cho Nhật Nam tiến. Thứ ba, Nhật lập quan hệ đồng minh với Đức, Ý là nhằm vào Mỹ, đồng thời Nhật chuẩn bị phối hợp với Đức chiếm Singapore, thuộc địa của Anh, đồng minh thân cận của Mỹ. Thứ tư, để đối phó với chính sách xâm lược của Nhật, Mỹ ngày càng hạn chế xuất khẩu sang Nhật, gây khó khăn lớn cho chính sách Nam tiến với hướng chính là Đông Dương và Indonesia.
 
Tháng 6.1940, Nhật ký Hiệp ước Hữu hảo với Thái Lan, kích động Thái Lan mâu thuẫn với Pháp (cái gọi là nguy cơ chiến tranh Xiêm-Pháp năm 1940). Đồng thời Nhật đòi chính quyền Pháp ở Đông Dương cắt đường tiếp tế Trung Quốc của Mỹ qua biên giới Việt-Trung (Hải Phòng-Lào Cai-Vân Nam) và yêu cầu Anh cắt đường tiếp tế Trung Quốc qua Miến Điện và Hongkong. Tháng 7, Nhật quyết định đưa các thuộc địa của Anh, Pháp, Hà Lan vào “phạm vi trật tự mới ở Đông Nam Á”.
 
Ngày 27.9.1940,  Nhật, Đức, Ý ký hiệp định Đồng Minh, lập Trục phát xít Âu-Á. Hitler có dự lễ ký ở Berlin. Mussolini không đánh giá cao việc này. Điều 1 Hiệp định viết: Nhật thừa nhận “sự lãnh đạo của Đức và Ý trong việc lập lại trật tự mới tại châu Âu”. Điều 2, Đức và Ý thừa nhận vai trò tương ứng của Nhật tại châu Á. 3 nước thoả thuận sẽ giúp nhau nếu 1 trong 3 nước bị Mỹ tấn công. Hiệp định có thời hạn 10 năm.
 
Tháng 11.1940, Tư lệnh Hạm đội Liên hợp, đại tướng hải quân (đô đốc) Isoroku Yamamoto, nhân vật số ba ở Nhật (sau Thiên Hoàng và Thủ tướng), cùng Bộ trưởng Hải quân bàn kế hoạch đánh úp Trân Châu Cảng, một dự định tuyệt mật chỉ hai người này biết.
 
Ngày 13.4.1941, Nhật và Liên Xô ký Hiệp ước Trung lập không xâm phạm lẫn nhau, nhờ đó Nhật rảnh tay đối phó với Mỹ, Anh trong việc Nam tiến. 10 ngày sau khi Đức tấn công Liên Xô, Chính phủ Nhật thông qua quyết định chiếm Đông Nam Á dù  phải đánh nhau với Mỹ. Nhưng để che mắt Mỹ, Nhật bày trò đàm phán bí mật với Mỹ. Ngày 14.4, Nhật gửi thông điệp cho Pháp đòi chiếm 8 sân bay ở Đông Dương. Ngày 14.7, Nhật đòi Pháp để Nhật dùng 8 sân bay ở Nam Việt Nam và sử dụng cảng Sài Gòn và Cam ranh. Về sau, máy bay Nhật cất cánh từ Sài Gòn đã tiêu diệt hạm đội Anh tại Singapore; từ sân bay Gia Lâm máy bay Nhật thường xuyên sang ném bom Côn Minh cắt đường tiếp tế của Mỹ sang Trung Quốc qua Miến Điện. Ngày 23.7, Nhật ký với chính quyền Pháp tại Đông Dương hiệp định cho Nhật chiếm Việt Nam. Mỹ phản ứng bằng cách ngừng đàm phán bí mật với Nhật và đóng băng tài sản Nhật, ngừng bán dầu cho Nhật. Anh và Hà Lan cũng làm theo. Việc Mỹ cấm vận tuy không lập tức gây khó khăn vì Nhật đã dự trữ dầu đủ dùng trong 2 năm, nhưng về lâu dài là bất lợi; Nhật chỉ còn trông mong vào việc chiếm Indonesia, nước sản xuất nhiều dầu mỏ. Vì vậy Nhật đã yêu cầu Indonesia (thuộc Hà Lan) cắt đứt quan hệ với châu Âu để tham gia “Khối cộng đồng phồn vinh Đại Đông Á ” do Nhật đưa ra.
 
Tháng 9.1941, Chính phủ Nhật thông qua quyết định phát động chiến tranh Thái Bình Dương. Tháng 10, Bộ trưởng Lục quân Hideki Tôjô, một trùm quân phiệt khét tiếng hiếu chiến từng là Tư lệnh đạo quân Quan Đông ở Mãn Châu, được Nhật Hoàng cử làm Thủ tướng (thay Konoe từ chức) kiêm Bộ trưởng hai Bộ Lục quân và Nội vụ. Tôjô có quyền như một shogun và được thăng từ Trung tướng lên Đại tướng.
 
Ngày 5.11, Nhật quyết định “phải chuẩn bị chiến tranh với Mỹ, Anh và Hà Lan nếu trước ngày 1.12.1941 các yêu cầu của Nhật không được đáp ứng.” Đó là các yêu cầu Nhật nêu ra trong cuộc đàm phán với Mỹ từ 4.1941: – để Nhật chiếm Trung Quốc và Đông Nam Á;  – Mỹ và Anh không được tăng cường lực lượng trong vùng châu Á – Thái Bình Dương; – Mỹ bán cho Nhật các thứ hàng Nhật cần. Rõ ràng, Mỹ không thể đồng ý với các yêu cầu đó. Vì vậy ngày 1.12, Nội các Nhật chính thức quyết định khai chiến với Mỹ, Anh, Hà Lan. Thật ra, ngay từ ngày 26.11, một hạm đội hùng hậu đã bí mật rời Nhật Bản tiến về Trân Châu Cảng (Pearl Harbor, cách Nhật 6000km, cách bờ biển phía Tây nước Mỹ 3000km). Lực lượng này gồm 6 tầu sân bay, 2 thiết giáp hạm, 3 tầu tuần dương, 11 tầu khu trục, 3 tầu ngầm cùng 423 máy bay hải quân, ngoài ra còn 27 tầu ngầm đi trước trinh sát./.
 
Trận đánh úp Trân Châu Cảng
 
4
Một tàu Mỹ chìm ở Trân Châu Cảng
 
7h50 Chủ Nhật 7.12.1941(theo giờ Hawaii, hoặc 3h19 Thứ Bẩy 8.12 theo giờ Tokyo), 183 máy bay Nhật cất cánh từ các tầu sân bay bắt đầu ném bom Trân Châu Cảng. Lúc này lính Mỹ trong cảng đang ngủ say sau một tối Thứ Bẩy chơi bời vui vẻ. Cùng ngày, Nhật tấn công Philippines, Hongkong, Malaysia, đảo Guam.
 
Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ. Đây là cuộc chiến đặc biệt khó khăn đối với Mỹ, trong 1-2 năm đầu Mỹ thiệt hại rất lớn, khác hẳn cuộc chiến Mỹ-Đức đang tiến hành ở châu Âu. Quân Nhật cuồng tín liều chết kiểu Võ Sĩ Đạo và có chuẩn bị chiến đấu trước, hơn hẳn Mỹ về trang bị vũ khí và kinh nghiệm tác chiến, và đánh ngay vào các căn cứ quân sự của Mỹ. Bộ Chỉ huy quân Nhật lắm thủ đoạn ranh ma xảo quyệt.
 
Để tránh bị mang tiếng là đánh trộm, Nhật quy định thời điểm công kích Trân Châu cảng chỉ được bắt đầu 30 phút sau khi Đại Sứ Nhật tại Washington trao “Thông điệp cuối cùng” của Nhật cho Chính phủ Mỹ. Nhưng thực tế là 20 phút sau khi trái bom đầu tiên rơi xuống Trân Châu Cảng, Đại sứ Nhật tại Washington mới tươi cười trao thông điệp cho Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Cordell Hull – tức là muộn 50 phút so với dự định của Nhật. Hull đã biết Trân Châu Cảng bị ném bom, nhưng Tổng thống Roosevelt yêu cầu Hull giả vờ chưa biết gì, cứ tiếp khách, nhận thông điệp và tiễn khách về.
 
Đoạn thứ 14 trong thông điệp của Nhật viết: “ … Trước thái độ của Chính phủ Mỹ, Chính phủ Đế Quốc cho rằng cho dù sau đây có tiếp tục đàm phán cũng không thể đạt được thoả thuận. Nay xin thông báo Chính phủ Mỹ biết và rất lấy làm tiếc.” Đọc xong Thông điệp, Hull giận giữ nói: “Tôi làm việc 50 năm nay chưa bao giờ thấy có một Chính phủ đê tiện như vậy và một văn bản xuyên tạc trắng trợn như thế.” Do tấn công trước khi chính thức tuyên chiến, Chính phủ Nhật từ đó bị mang tiếng xấu là “đánh trộm”. Khi biết chuyện này, đại tướng Yamamoto ngửa mặt lên trời thở dài vì ý định để lại tiếng thơm cho đời sau của ông ta thế là tan thành mây khói. Việc Nhật Bản đánh trộm đã gây nên một làn sóng cực kỳ căm phẫn khắp nước Mỹ.
 
Thế nhưng tai hoạ vẫn chưa chấm dứt. 8h40, đợt tấn công thứ 2 của Nhật bắt đầu. 171 máy bay Nhật cất cánh từ các tầu sân bay vượt 1 giờ 25 phút bay đến Trân Châu Cảng. Sau khi bắn hạ hết các máy bay Mỹ lên ứng chiến, bom Nhật bắt đầu rơi xuống 3 sân bay và các tầu chiến Mỹ. Do đã có chuẩn bị sau đợt công kích 1 nên lần này pháo cao xạ Mỹ bắn lên dữ dội, hạ được 20 máy bay Nhật.
 
Trận kỳ tập Trân Châu Cảng diễn ra trong có 1 giờ 45 phút. 96 tầu chiến các loại của Mỹ đỗ trong cảng cùng hàng trăm máy bay hoàn toàn không kịp phản ứng. Phía Mỹ 4 thiết giáp hạm bị đắm, 1 thiết giáp hạm, 3 tầu tuần dương và 3 tầu khu trục bị thương nặng, 11 tầu các loại bị thương nhẹ, 260 máy bay bị phá hỏng, 63 bị thương, chết 2334, mất tích 916, bị thương 1341 người – tóm lại hạm đội Thái Bình Dương mất một nửa số tầu chiến và 70% máy bay. Rất may là trước đó vài hôm các tầu sân bay Mỹ vừa  được di chuyển đến nơi an toàn, nếu không thiệt hại còn lớn nữa. Phía Nhật chỉ mất 32 máy bay và 133 người, 6 tầu ngầm.
 
Một điều trớ trêu là kẻ vạch kế hoạch đánh úp Trân Châu Cảng – đại tướng hải quân Yamamoto trước đó lại chính là người hăng hái nhất phản đối việc Nhật giao chiến với Mỹ. Yamamoto từng học ở Mỹ rồi làm tham tán quân sự tại Mỹ nhiều năm, rất hiểu tiềm lực công nghiệp hùng hậu của Mỹ. Năm 1940, Yamamoto từng trình lên Chính phủ Nhật một bản ý kiến, trong có viết: “Giao chiến với Mỹ nghĩa là ta tự tạo cho mình một kẻ địch mới rất hùng mạnh, sẽ làm nước ta thiệt hại nặng; lẽ nào mục tiêu ta theo đuổi chỉ là kiếm một chút hư danh ư ?” Yamamoto cũng phản đối việc ký hiệp ước đồng minh với Đức, Ý, với lý do 80% vật tư chiến lược Nhật nhập khẩu từ Anh và Mỹ, nếu Nhật đồng minh với Đức thì sẽ mất nguồn vật tư đó. Nhưng sau khi Thiên Hoàng và Chính phủ Nhật quyết định giao chiến với Mỹ thì với dòng máu Võ Sĩ Đạo “trung hiếu” trên hết, Yamamoto lại rất nghiêm chỉnh thực hiện chủ trương này. Tuy vậy, Yamamoto cũng chỉ giới hạn mục tiêu là đánh tan hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ để ép Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến tranh với Nhật, chứ không mong thắng Mỹ. Các sử gia Mỹ đánh giá Yamamoto là một trong mấy tướng tài của Đại chiến II.
 
Thất bại cay đắng của Mỹ tại Trân Châu cảng trước hết là do chính sách nuôi ong tay áo của Chính phủ Mỹ: trước Đại chiến II, Mỹ luôn tìm cách để phát xít Đức và Nhật gây chiến với Liên Xô, khiến cho hai bên đều thiệt hại, Mỹ “ngư ông đắc lợi”, “tọa sơn quan hổ đấu”. Trước chiến tranh, Mỹ bán cho Nhật rất nhiều vật tư chiến lược như vũ khí và dầu mỏ, sắt thép, hy vọng Nhật sẽ Bắc tiến chứ không Nam tiến. Nhật đã lợi dụng sự ngây thơ chính trị này để giáng cho Mỹ bài học nhớ đời. Thứ hai, sau Đại chiến I, đa số người Mỹ muốn theo “chủ nghĩa cô lập (biệt lập)”, chủ trương không giúp đỡ các nước khác chống xâm lược (trong ĐCI, TT Mỹ Wilson lúc đầu chủ trương trung lập, nhưng từ 2.1917 lại tuyên chiến với Đức và gửi hơn 1 triệu lính sang giúp châu Âu đánh lại Đức, rồi đứng ra dàn xếp hòa bình ở hội nghị Versailles khiến dân Mỹ bất bình cho là nước Mỹ tốn kém mà chẳng được lợi gì.). Quốc hội Mỹ mạnh mẽ phản đối tăng chi phí quân sự, do đó Mỹ thiếu sự chuẩn bị chiến tranh về tinh thần và vật chất. Trên vùng Thái Bình Dương, Mỹ chỉ có 3 tầu sân bay, 9 thiết giáp hạm, 22 tầu tuần dương và 54 tầu khu trục; trong lúc đó phía Nhật tương ứng có 10, 10, 38 và 113. Các máy bay chiến đấu của Nhật đều có chất lượng trội hơn hẳn máy bay Mỹ. Thứ ba, tư tưởng chủ quan khinh địch, bảo thủ về chiến lược chiến thuật. Trong khi Yamamoto ra sức xây dựng binh chủng hàng không hải quân thì Bộ Chỉ huy tối cao Mỹ vẫn sa đà với lý luận quân sự cũ rích của Alfred Mahan (1840-1914), cho rằng thiết giáp hạm là lực lượng chính quyết định việc giành quyền kiểm soát biển, mà chưa kịp thời chuyển sang dựa vào tầu sân bay, luôn tuyên bố Trân Châu Cảng “nằm ngoài tầm bắn của hạm đội Nhật”, cho rằng chiến tranh với Nhật sẽ là cuộc đại chiến đấu pháo giữa các tầu chiến.
 
Thất bại vô cùng cay đắng này đã khiến Tổng thống Roosevelt có một quyết định bất ngờ: không ngồi xe lăn mà để con trai vực ra diễn thuyết 6 phút trước Thượng viện và Hạ viện. Roosevelt nói ngay vào vấn đề: “Hôm qua, ngày 7 tháng 12, nước Mỹ đã bị tấn công mạnh mẽ với chủ định từ trước. Ngày này sẽ mãi mãi là ngày quốc xỉ của chúng ta ! …” cuối cùng ông nói: “Tôi yêu cầu Quốc Hội tuyên bố : từ ngày Chủ Nhật mồng 7 tháng 12 năm 1941, bắt đầu từ cuộc tấn công vô cớ và hèn nhát của Nhật Bản, giữa Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ với Nhật Bản đã tồn tại trạng thái chiến tranh.” Hai viện nhanh chóng nhất trí thông qua yêu cầu của Tổng thống.
 
Thủ tướng Anh Churchill cả mừng khi nhận được tin này. Thời gian qua ông ra sức kéo Mỹ vào cuộc chiến mà cũng chỉ được Mỹ “Cho vay và cho thuê” (Lend-Lease) vũ khí và vật tư quân sự, bây giờ Nhật đã giúp ông kéo được gã khổng lồ Mỹ trở thành đồng minh của Anh. Ngay hôm ấy Anh cũng tuyên chiến với Nhật.
 
6 h sáng ngày 8.12, đại bản doanh Nhật phát thông cáo tin tuyên chiến ngắn có 3 phút. 11 h lại phát bản tin số 2: “Sáng sớm hôm nay, hải quân Đế Quốc đã tiến hành một cuộc tập kích lớn bằng máy bay vào hạm đội và binh chủng hàng không Mỹ tại Trân Châu cảng, chiến quả huy hoàng.” Cả nước Nhật chìm trong không khí hân hoan chiến thắng. Những kẻ cuồng chiến tung hô “Đế Quốc muôn năm”. Riêng đại tướng Yamamoto thì bình thản nói với các tướng sĩ đến chúc mừng ông: “Chúng ta chẳng qua chỉ đánh thức được một gã khổng lồ đang ngủ say mà thôi !”

Nguyễn Hải Hoành (dịch)
(Tổng thuật từ các tư liệu nước ngoài)

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Xem nhiều nhất
Xem dự báo thời tiết tại
Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 55
  •   Thành viên online 1
  •   Máy chủ tìm kiếm 2
  •   Khách viếng thăm 52
 
  •   Hôm nay 16,321
  •   Tháng hiện tại 520,765
  •   Tổng lượt truy cập 28,502,281
Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất ở mã nguồn mở?

USD 58.8987
EUR 69.4298
HKD 75.3855
JPY 52.5248
AUD 45.2813
BGN 35.4961
CAD 46.1770
CHF 59.6020
DKK 93.2605
GBP 79.0892
KRW 54.0588
SGD 43.7583
QUẢNG CÁO TRÁI
Banner